Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

Yêu cầu đối với học sinh ngày nay

Yêu cầu đối với học sinh ngày nay không cần ghi nhớ mọi thứ nhưng họ phải biết chỗ và cách tìm thông tin cần thiết. Như một trong các sinh viên của tôi thường nói: “Gu gồ nó đi.” Mặc dầu họ không cần ghi nhớ nhưng họ phải học việc nghiên cứu, thực nghiệm, phân tích, rút ra kết luận, và giải quyết vấn đề. Phương pháp học mới hội tụ vào động viên học sinh học tập, thám hiểm, và phát triển tư duy phê phán. Học sinh nên có khả năng lựa chọn tài liệu là tốt nhất cho mức độ tri thức của họ từ bất kì nguồn nào sẵn có. Tất nhiên, để làm điều đó họ phải có thói quen đọc tốt và biết cách dùng các công cụ để tìm tài liệu cho họ xây dựng tri thức.
Xem nguồn

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

KHẮC PHỤC BOM MÌN CÒN SÓT LẠI SAU CHIẾN TRANH


+ Theo số liệu thống kê, số lượng đạn dược do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam là 15,35 triệu tấn. Trong đó, số lượng bom mìn, vật nổ còn sót lại ước tính 800.000 tấn.

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

CÁCH PHÁT HIỆN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

          Các “vấn đề” nghiên cứu khoa học thường được hình thành trong các tình huống sau:

* Quá trình nghiên cứu, đọc và thu thập tài liệu nghiên cứu giúp cho nhà khoa học phát hiện hoặc nhận ra các “vấn đề” và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu (phát triển “vấn đề” rộng hơn để nghiên cứu). Đôi khi người nghiên cứu thấy một điều gì đó chưa rõ trong những nghiên cứu trước và muốn chứng minh lại. Đây là tình huống quan trọng nhất để xác định “vấn đề” nghiên cứu.

* Trong các hội nghị chuyên đề, báo cáo khoa học, kỹ thuật, … đôi khi có những bất đồng, tranh cải và tranh luận khoa học đã giúp cho các nhà khoa học nhận thấy được những mặt yếu, mặt hạn chế của “vấn đề” tranh cải và từ đó người nghiên cứu nhận định, phân tích lại và chọn lọc rút ra “vấn đề” cần nghiên cứu.

* Trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, qua hoạt động thực tế lao động sản xuất, yêu cầu kỹ thuật, mối quan hệ trong xã hội, cư xử, … làm cho con người không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những sản phẩm tốt hơn nhằm phục vụ cho nhu cầu đời sống con người trong xã hội. Những hoạt động thực tế này đã đặt ra cho người nghiên cứu các câu hỏi hay người nghiên cứu phát hiện ra các “vấn đề” cần nghiên cứu.

* “Vấn đề” nghiên cứu cũng được hình thành qua những thông tin bức xúc, lời nói phàn nàn nghe được qua các cuộc nói chuyện từ những người xung quanh mà chưa giải thích, giải quyết được “vấn đề” nào đó.

* Các “vấn đề” hay các câu hỏi nghiên cứu chợt xuất hiện trong suy nghĩ của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu qua tình cờ quan sát các hiện tượng của tự nhiên, các hoạt động xảy ra trong xã hội hàng ngày.


* Tính tò mò của nhà khoa học về điều gì đó cũng đặt ra các câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu.

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

NHÂN LỰC-ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN

Nhân lực là một nguồn lực đặc biệt, không thể đi vay mượn, có vai trò quyết định tới sự thành bại của một tổ chức nói chung, đơn vị nói riêng.
Nhưng trên thực tế, nhiều tổ chức, doanh nghiệp vẫn đang loay hoay với bài toán phát triển nguồn nhân lực (NNL) và lúng túng trong việc triển khai đánh giá năng lực nhân viên.
Muốn phát triển NNL, trước tiên phải đánh giá được năng lực nội tại của nhân viên. Muốn đánh giá năng lực hiệu quả, cần có tiêu chuẩn năng lực và thước đo cụ thể. Và để biết nhân viên thiếu / đủ năng lực thế nào, cần bổ sung, phát triển ra sao, cũng lại cần tiêu chuẩn năng lực.
Vậy tiêu chuẩn năng lực là gì và xây dựng nó như thế nào?

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

Nhiệm vụ chính của lực lượng công binh Nga

 Gồm có 12 nhiệm vụ cơ bản

1). Công tác trinh sát tình hình địch, địa hình và cơ sở hạ tầng.
Xem ở đây
2). Xây dựng công sự, thiết bị trận địa khu vực phòng thủ (khu vực triển khai, kiểm soát, khu vực đóng quân).
Xem chi tiết tại đây
3) Xây dựng và duy trì hệ thống vật cản.
4). Công tác phá hủy.
5). Tổ chức vượt chướng ngại: bãi mìn, vật cản và các đống đổ nát.
6). Rà phá bom mìn và vật nổ.
7). Công tác bảo đảm cầu, đường và cơ động;
8). Bảo đảm vượt sông.
9). Công tác cung cấp nước.
10). Xây dựng và tổ chức cung cấp điện.
11). Tham gia trong việc chống lại các hệ thống tình báo và vũ khí của đối phương, ngụy trang, nghi trang và nghi binh chiến dịch.
Xem chi tiết
Ngụy trang
12). Loại bỏ các hậu quả của các tác động của các loại vũ khí khác nhau của địch.
Xe máy công binh các nước trên thế giới
Xem các loại trang bị công binh ( Dịch máy).

Nguồn dịch từ bản tiếng Nga:
Основные задачи инженерного обеспечения.
            1). Инженерная разведка противника, местности и объектов.
      2). Фортификационное оборудование оборонительных позиций опорных пунктов и районов обороны (районов развертывания пунктов управления, исходных районов, районов сосредоточения).
            3).Устройство и содержание инженерных заграждений.
            4). Подготовка (производство) разрушений.
            5). Проделывание и содержание проходов в заграждениях и разрушениях.
            6). Разминирование местности и объектов,
            7). Подготовка и содержание путей движения и маневра подразделений;
       8). Оборудование и содержание переправ при форсировании (преодолении) водных преград.
            9). Оборудование и содержание пунктов полевого водообеспечения.
          10). Полевое электроэнергетическое обеспечение войск.
      11). Участие в противодействии системам разведки и наведения оружия противника, скрытии (маскировке), имитации подразделений (частей) и объектов, обеспечении дезинформации и демонстративных действий.

      12). Ликвидация последствий воздействия различных видов оружия противника и опасных факторов природного и техногенного характера.